Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Sau tháng 4/1975, việc tiếp quản Ngân hàng Quốc gia cũ của chế độ Sài Gòn và ngân hàng tư nhân trong toàn tỉnh được thực hiện và đến tháng 7/1975, theo Quyết định số 34/VP/QĐ ngày 02/7/1975 của Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (thuộc Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tại tỉnh Bến Tre được thành lập.  
 
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại Quyết định số 290/QĐ-NHNN ngày 25/02/2014. 
 
Bộ máy tổ chức của NHNN CN tỉnh Bến Tre 
 
Lãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh qua các thời kỳ 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Quá trình thành lập và phát triển của NHNN CN tỉnh Bến TreQuá trình thành lập và phát triển của NHNN CN tỉnh Bến Tre
          Sau tháng 4/1975, việc tiếp quản Ngân hàng Quốc gia cũ của chế độ Sài Gòn và ngân hàng tư nhân trong toàn tỉnh được thực hiện và đến tháng 7/1975, theo Quyết định số 34/VP/QĐ ngày 02/7/1975 của Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (thuộc Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tại tỉnh Bến Tre được thành lập.

          Ngày 02/7/1976, Quốc hội (Khoá VI) của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ họp đầu tiên tại thủ đô Hà Nội đã thông qua quyết định lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ngành Ngân hàng hai miền cũng thống nhất thành một Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Quốc gia tại tỉnh Bến Tre được đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tỉnh Bến Tre. Nhiệm vụ chính của Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn lúc này là sử dụng công cụ tiền tệ và tín dụng một cách tích cực, góp phần củng cố chính quyền cách mạng; đồng thời qua các hoạt động tín dụng, tiền tệ phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, xây dựng, nhất là phục vụ sản xuất nông nghiệp, khai hoang, phục hoá, chặn đứng nạn đói đe dọa sau chiến tranh ở thời kỳ đầu sau giải phóng 1978-1979.

          Thời kỳ 1975 -1985, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã hoàn thành việc thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam và thu hồi tiền cũ ở cả hai miền Nam - Bắc, phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Theo đó, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Bến Tre hoạt động theo một hệ thống duy nhất, vừa thực hiện nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ - tín dụng - thanh toán, vừa trực tiếp cho vay phục vụ nền kinh tế theo mô hình ngân hàng một cấp.

         Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/NĐ-HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh. Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính. Sự ra đời của 2 Pháp lệnh ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật.

          Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN (Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998, Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013).

          Trên cơ sở đó, từ tháng 10/1988, thực hiện chủ trương đổi mới về tổ chức và hoạt động của ngành, Ngân hàng Bến Tre đã có những thay đổi hết sức căn bản: Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh thực hiện vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng trên địa bàn tỉnh, là đầu mối trong việc tổ chức, triển khai các chủ trương của ngành, thực hiện các nghiệp vụ của Ngân hàng trung ương do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ủy quyền; vừa tham mưu cho lãnh đạo tỉnh trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế địa phương gắn liền với hoạt động tiền tệ - ngân hàng, định hướng hoạt động của ngành Ngân hàng trong phục vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương; thí điểm xây dựng quỹ tín dụng nhân dân; đồng thời với việc thành lập các ngân hàng thương mại cũng được xúc tiến.

          Gắn liền với quá trình hình thành và xây dựng, ngành Ngân hàng trên địa bàn đã không ngừng phát triển về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ Ngân hàng Bến Tre được xây dựng với hầu hết cán bộ có đạo đức, phẩm chất tốt, có trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành trong thời kỳ đổi mới. Nhờ đó, hoạt động của Ngân hàng Bến Tre luôn phát triển một cách toàn diện, vững chắc.​

11/03/2016 10:00 SAĐã ban hành
Bộ máy tổ chức của NHNN CN tỉnh Bến TreBộ máy tổ chức của NHNN CN tỉnh Bến Tre
Bộ máy tổ chức của NHNN CN tỉnh Bến Tre

So do vi tri viec lam 2015-.png

11/03/2016 10:00 SAĐã ban hành
Chức năng, nhiệm vụ của NHNN CN tỉnh Bến TreChức năng, nhiệm vụ của NHNN CN tỉnh Bến Tre
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại Quyết định số 290/QĐ-NHNN ngày 25/02/2014.

I. Vị trí, chức năng

1. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Chi nhánh) là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước). Chi nhánh là đơn vị hạch toán phụ thuộc, có con dấu và bảng cân đối tài khoản theo quy định của pháp luật.

2. Chi nhánh có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (sau đây gọi tắt là Thống đốc) thực hiện quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối trên địa bàn và thực hiện một số nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương theo ủy quyền của Thống đốc.

II. Nhiệm vụ, quyền hạn

Chi nhánh thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trên địa bàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và của pháp luật với các nội dung sau:

1. Tổ chức phổ biến, tuyên truyền và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, văn bản chỉ đạo, điều hành của Thống đốc về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối đến các tổ chức tín dụng, các tổ chức khác và người dân trên địa bàn.

2. Thống kê, thu thập thông tin, nghiên cứu, phân tích tình hình kinh tế, tiền tệ trên địa bàn để tham mưu cho Thống đốc trong điều hành, thực hiện chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về lĩnh vực liên quan đến tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện công tác thông tin tín dụng.

3. Thực hiện việc cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể tổ chức tín dụng và chấp thuận nội dung khác của các tổ chức tín dụng trên địa bàn theo ủy quyền của Thống đốc.

4. Giám sát, chỉ đạo việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, kiểm soát đặc biệt và giải thể tổ chức tín dụng trên địa bàn theo ủy quyền của Thống đốc.

5. Thực hiện thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối.

6. Thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố.

7. Cung ứng dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các dịch vụ ngân hàng trung ương khác cho các tổ chức tín dụng và Kho bạc Nhà nước.

8. Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng.

9. Thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn và cho vay thanh toán đối với các tổ chức tín dụng khi được Thống đốc ủy quyền.

10. Quản lý nhà nước về tiền tệ, kho quỹ, bảo đảm an toàn về tài sản, tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá bảo quản tại Chi nhánh và khi giao nhận theo quy định.

11. Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo phân công, ủy quyền của Thống đốc.

12. Thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng và tội phạm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tiếp công dân, xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định.

13. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, cải cách hành chính, văn hóa công sở.

14. Báo cáo, trả lời chất vấn theo yêu cầu của cấp ủy, chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân và Đoàn Đại biểu Quốc hội; trả lời kiến nghị của các cơ quan báo chí về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối.

15. Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định.

16. Thực hiện công tác quốc phòng, an ninh; công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy, phòng chống thiên tai, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn tại Trụ sở Chi nhánh và các cơ sở vật chất khác thuộc thẩm quyền quản lý của Chi nhánh.

17. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định.

18. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thống đốc giao.​

III. Thông tin liên hệ

- Địa chỉ: 100P, Nguyễn Văn Tư, Phường 5, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Điện thoại: 0753. 829 588    Fax: 0753 823 270

- Email: bentre@sbv.gov.vn

11/03/2016 10:00 SAĐã ban hành
Lãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh qua các thời kỳLãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh qua các thời kỳ
Lãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh qua các thời kỳ

Giam doc NHNN NT qua cac thoi ky 3.png

11/03/2016 10:00 SAĐã ban hành
Cổng Thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bến Tre
Địa chỉ: Số 100P, Nguyễn Văn Tư, Phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0753.829586; Email: nhnn.bentre@sbv.gov.vn